BỆNH SÂU RĂNG

Sâu răng là gì, chản đoán sâu răng

Sâu răng là một bệnh ở tổ chức cứng của răng, làm tiêu dần các chất vô cơ và hữu cơ ở men và ngà răng làm thành lỗ sâu. Vậy triệu trứng sâu răng như thế nào? cách phòng tránh sâu răng cho trẻ em, người mang thai.

 

 

 

 

 

 

 I- ĐỊNH NGHĨA: Sâu răng là một bệnh ở tổ chức cứng của răng, làm tiêu dần các chất vô cơ và hữu cơ ở men và ngà răng làm thành lỗ sâu.tóm lại Sâu răng là một bệnh phá hoại cấu trúc của răng.

Lưu ý: Nếu không được điều trị, bệnh này có thể dẫn đến đau răng, rụng răng, nhiễm trùng, và tử vong đối với những ca nặng. Bệnh sâu răng có một lịch sử dài, với các căn cứ cho thấy nó đã xuất hiện từ thời kỳ Đồ Đồng, Đồ Sắt, thời Trung Cổ, và thậm chí trước cả thời kỳ Đồ Đá Mới. Người ta đã liên hệ những đợt bệnh sâu răng lan rộng mạnh nhất với các thay đổi về chế độ ăn. Ngày nay, bệnh sâu răng vẫn là một trong những bệnh thường gặp nhất trên khắp thế giới. 

Hình 1: Răng sâu

II- YẾU TỐ GÂY SÂU RĂNG: gồm 3 yếu tố:

1. Chất lượng tổ chức cứng của răng:

- Tuổi người già, trẻ em dể bị sâu răng vì men và ngà yếu.

- Men và ngà răng có được cung cấp đủ lượng flour, chất vi lượng (phosphat carbonat) để đảm bảo độ cứng không

2. Thức ăn chủ yếu là đường, kẹo, bánh dễ gây sâu răng

3. Vi khuẩn hoạt động dưới đất bám dính tạo thành mảng bám vi khuẩn phá hoại tổ chức cứng của răng.

Nguyên nhân: vi khuẩn + thức ăn (đường, tinh bột) à axit à gây sâu răng

III- TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ TIẾN TRIỂN CỦA SÂU RĂNG:

Chẩn đoán bước đầu Lâm sàng sâu răng được chia làm các giai đoạn:

- Sâu men

- Sâu ngà nông

- Sâu ngà sâu

Nếu không được điều trị kịp thời thì sẽ dẫn đến viêm tủy :

- Tiền tủy cấp

- Viêm tủy cấp

- Viêm tủy mãn

>> xem chi tiết tại đây

- Khi sâu răng đến tuỷ có thể có nhiều biến chứng:

+ Tuỷ chết rồi thối gây viêm quanh cuống răng.

+ Áp xe hay nang có thể hình thành trong xương.

+ Gây viêm mô tế bào, viêm xương.

+ Viêm cầu thuận, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn

Lúc ấy không những đau đớn, ảnh hưởng đến sức khoẻ chung mà đôi khi còn nguy hiểm đến tính mạng.

IV- CÁCH ĐIỀU TRỊ:

- Các bạn nên nhớ phải đánh răng khi ăn xong vì thế sẽ làm cho răng trắng và phòng ngừa sâu răng và súc nước muối để tiêu diệt mảng bám và vi khuẩn gây hôi miệng.

- Sâu răng được điều trị bằng các Biện pháp tái khoáng phần bị sâu, dùng dung dịch gồm các chất calcium, phosphate, fluoro trám vào nơi răng bị sâu. Phương pháp này áp dụng cho trường hợp răng chớm sâu, có khả năng thu hẹp vùng có màu trắng vôi hoặc vùng đó ngừng phát triển. Đây là phương pháp tái khoáng đơn giản, hiệu quả, không đau và an toàn.

- Khi lỗ sâu rộng hơn:

   + Khoan tạo lỗ hàn

   + Nạo sạch, nhẹ nhàng thức ăn và ngà mủn

   + Sát trùng hàn tạm Eugenate đối với sâu ngà sâu, hàn vĩnh viễn với sâu ngà nông

   + Hàn vĩnh viễn : Khi hàn sử dụng chất liệu hàn trám để hàn thật chắc vào răng, trám đầy vào chỗ khuyết của răng để không lưu vi khuẩn và thức ăn vào hốc sâu răng nhằm ngăn chặn hậu sâu răng nặng hơn hoặc hậu quả của sâu răng, khôi phục tính năng của răng, nhằm giữ được thẩm mỹ và chức năng cho hàm răng.

Riêng đối với lứa tuổi học đường, tỷ lệ các em mắc bệnh răng miệng rất cao nên vấn đề điều trị dự phòng từ khi sâu ngà tránh biến chứng được đặt lên hàng đầu.

Ở Việt nam trong những năm gần đây mới áp dụng kỹ thuật trám răng không sang chấn (ATR: astraumatic treatment restoration): là kỹ thuật hàn răng chỉ với bộ dụng cụ cầm tay, hộp thuốc hàn GIC (Fuji IX), không cần máy khoan, không cần nhiều trang thiết bị nên đặc biệt phù hợp với điều kiện y tế cơ sở và công tác nha học đường, vật liệu thường dùng là Glassionomer Cement tiến hành với răng hàm nhỏ và răng hàm lớn.

-Ngoài ra có thể hàn răng bằng Amalgan, Composite

V- PHÒNG BỆNH:

Sâu răng được hình thành do 3 yếu tố trình bày phần trên. Vì vậy loại trừ các yếu tố gây sâu răng áp dụng trong phòng chống sâu răng với biện pháp bao gồm:

- Vệ sinh răng miệng (chải răng đúng phương pháp)

- Chế độ ăn thích hợp (hạn chế việc dùng đường)

- Tăng cường sức đề kháng của men răng bằng thêm fluor vào men

1. Chải răng:

- Mục đích:

+ Lấy sạch mảng bám ở mặt ngoài, mặt trong và mặt nhai của răng

+ Xoa nắn lợi nhẹ nhàng, làm sạch khe lợi

+ Làm sạch lợi

- Cách chọn bàn chải: đầu bàn chải tròn, bóng, lòng bàn chải phải đủ mềm

- Phương pháp chải răng: chải răng sau khi ăn, trước khi đi ngủ và chải răng đủ ba mặt răng ngoài, trong và mặt nhai. Chải răng xoay tròn với răng cửa, chếch 450 đối với răng hàm trong 3 phút.

- Đối với kẽ răng phải dùng chỉ tơ nha khoa để làm sạch kẽ răng.

2. Chế độ ăn:

a. Đường bột:

Khuyến cáo mức tiêu thụ đường tự do < 10kg/người/năm ( trung bình khoảng 500g/người/tháng) giảm đáng kể tỉ lệ sâu răng. Hiện nay các chất ngọt không phải đường thay thế được dùng ngày càng nhiều đặc biệt trong công nghiệp bánh kẹo và thức uống giải khát, cả trong kẹo cao su...

Chất ngọt thay thế đường

          Loại ngọt ít                                             Loại ngọt đậm

Sorbitol

Malnitol

Si rô glucose thuỷ phân

Isomalt, xylitol,lactitol

Saccharin

Acesulfame K

Aspatame

Thaumatin

Đây là các chất ngọt gần như hoặc không mang tính gây sâu răng. Các loại ngọt đậm và xylitol không gây sâu răng, trong khi các loại ngọt ít hơn có thể được vi khuẩn mảng bám chuyển hoá nhưng với tốc độ rất chậm, các loại này có thể xem như an toàn, vài chất ngọt đã được cho phép dùng. Thuốc dùng cho trẻ em cũng nên cho các chất ngọt thay thế đường sẽ giảm tỉ lệ sâu răng cho trẻ.

b. Dùng nguồn thức ăn giàu canxi, vitamin D:

Có trong sữa, rau quả xanh, cá, phomat... giúp chống rụng răng và loãng xương ở người lớn tuổi. Mặc dù ở nước ta thói quen ăn phomat chưa phổ biến nhưng đây là nguồn giàu chất canxi, khi ăn phomat, canxi sẽ được giải phóng, bám vào bề mặt răng và có tác dụng phục hồi bề mặt răng chống lại sự tấn công của acid gần như ngay lập tức.

c. Rau quả:

Ăn những loại thực phẩm không gây hại cho răng: như dưa chuột, bắp cải, súp lơ, bí xanh, bí đỏ, cà tím, củ cải, cà rốt, dưa gang, rau riếp... giúp làm sạch răng và loại bỏ mảng bựa vôi, chỉ nên ăn 200g/bữa nếu ăn nhiều sẽ gây táo bón, khi ăn nên nhai kỹ.

Loại thực phẩm  hại cho răng:  như chuối, chà là, nho, cà chua, đậu hà lan, quả vả, sung, táo ngọt, quả lựu, cam, quýt, quất, me chua...do chứa nhiều carbohydrate nhưng cũng không nên đoạn tuyệt vì chúng cũng có nhiều yếu tố có lợi cho răng miệng như làm sạch và chứa flurua.

Ta có thể dùng xen kẽ loại thực phẩm gây sâu răng với thực phẩm không gây sâu răng thì sẽ tốt hơn. Ví dụ ăn bánh ga-tô dính răng sau đó lại nhai miếng phomat thuỵ sỹ thì sạch miệng mau hơn. Sữa có nhiều canxi, phospho nên có tác dụng trung hoà với thực phẩm dễ gây sâu răng như đường. Thức ăn tinh bột trắng ( bột loại bỏ nhiều lớp vỏ bám bên ngoài của hạt ngũ cốc ) thì làm cho đường và acid bám chắc vào răng. vì thế  trong bữa ăn hàng ngày ta nên xen kẽ các thức ăn tinh, thô với các thức ăn có nhiều chất xơ (xenlulose) sẽ làm cho răng chắc khoẻ và sạch răng.

Nhằm hạn chế tối đa sự xuất hiện của bệnh ăn mòn răng, số lượng và tần xuất đồ uống có ga và nước ép trái cây cần được giới hạn.

d. Những chị em khi có thai và nuôi con bú:

Cần ăn uống đủ dinh dưỡng, canxi, vitamin D để giúp cơ thể hấp thụ tốt canxi, vì thiếu nó xương răng sẽ bị thiếu canxi, răng dễ bị hỏng trẻ nhỏ phải chịu nhiều hậu quả như suy dinh dưỡng, còi xương, mầm răng xấu....

e.Chế độ ăn cho Trẻ em 

Đối với trẻ em răng sữa liên quan đặc biệt tới sự tăng trưởng của hàm răng khôn sau này. Răng sữa giúp cho trẻ nhai thực phẩm, giữ cho hàm ở vị trí tốt cho răng vĩnh viễn vì thế cần phải chăm sóc răng cẩn thận.

Trẻ nhỏ cho bé uống sữa, nước hoa quả, nước lọc bằng cách đổ thìa, trẻ lớn  nên dùng bằng cốc.

Không cho trẻ uống nước hoa quả, sữa... bằng bình vì uống nước hoa quả bằng bình sẽ kéo dài thời gian răng bé tiếp xúc với đường và các acid từ hoa quả.

Không nên cho bé ngậm vú giả nhúng vào các chất ngọt như mật ong, mứt hay nước si rô ngọt.

Tránh cho trẻ ăn đồ ngọt suốt cả ngày, giới hạn lượng đồ ngọt và chỉ cho phép bé ăn trong thời gian bữa chính. 

3. Làm cho men răng trở nên chắc hơn bằng sử dụng fluor:

Trẻ từ 6-15 tuổi có thể súc miệng với dung dịch Natri Fluorua 2%o. Mỗi tuần súc miệng 1 lần trong 2 phút. Mỗi lần súc miệng, mỗi trẻ cần 5-7ml NaF 0,2%. Súc miệng thật kỹ rồi nhổ ra, không được nuốt, ăn uống trong vòng 30 phút.

4. Khám định kỳ: 6 tháng khám 1 lần để phát hiện những răng chớm bị sâu để điều trị sớm, tránh biến chứng viêm tuỷ, viêm quanh cuống.

 

 

 

 

 

 

 

 

Tags: 

Tin cùng chuyên mục