CHẤN THƯƠNG HÀM MẶT

Chấn thương hàm mặt là chấn thương làm tổn thương các cơ quan vùng hàm mặt.

Trên thế giới, tỷ lệ chấn thương ngày càng cao; trong đó, chấn thương vùng hàm mặt chiếm tỷ lệ khá lớn (theo Gallas, riêng gãy xương hàm dưới chiếm 15 % gãy xương chung) và thường liên quan đến chấn thương sọ não, gây tử vong cao.

Ở nước ta, các loại tai nạn lao động trong sản xuất công nghiệp, tai nạn sinh hoạt, thể thao tăng nhanh về số lượng và tính chất nguy hiểm cho tính mạng đặc biệt là tai nạn giao thông (trong đó, tai nạn xe máy chiếm 70 %). Chấn thương hàm mặt cũng gia tăng. Trước đây, trong chiến tranh, vết thương hàm mặt chiếm 7-10 % tổng số vết thương và gãy xương hàm dưới nhiều gấp 2-3 lần gãy xương hàm trên (theo bệnh viện Việt Đức Hà Nội) nhưng gần đây, gãy khối xương tầng giữa mặt có chiều hướng gia tăng và tỷ lệ với tai nạn giao thông.

Chấn thương, gãy xương vùng hàm mặt chiếm tỷ lệ khoảng 5% trong tổng số gãy xương của cơ thể nguyên nhân do va đập. Tỷ lệ này có xu hướng tăng lên trong giai đoạn hiện nay, nhất là ở Việt nam.

Khối xương hàm mặt có cấu trúc đặc biệt, là khung đỡ cho tổ chức phần mềm che phủ bên ngoài, tạo nên hình thể đặc thù của từng khuôn mặt khác nhau. Vùng hàm mặt chỉ có xương hàm dưới là xương vận động duy nhất, còn lại các xương liên kết với nhau bởi các khớp răng cưa bất động. Khối xương hàm mặt sắp xếp thành các lớp trên dưới, trước sau chồng chéo lên nhau, cho nên chẩn đoán gãy xương trên lâm sàng và X quang đều khó chính xác, dễ bỏ sót tổn thương .

Trong khối xương hàm mặt chứa đựng những cơ quan giữ những chức năng quan trọng và liên quan chặt chẽ đến sọ não đặc biệt là nền sọ. Khi chấn thương gãy xương thường kết hợp với những thương tổn các cơ quan và chấn thương sọ não ở các mức độ khác nhau. Cấp cứu, điều trị gãy xương vùng hàm mặt không được bỏ sút và coi nhẹ những tổn thương kết hợp trên.

 

Điều trị gãy xương vùng hàm mặt phải đạt được hai yếu cầu là phục hồi hình thể giải phẫu thẩm mỹ của khuôn mặt và chức năng của các cơ quan.

1.1. Đặc điểm giải phẫu, sinh lý và bệnh học chấn thương phần mềm vùng hàm mặt

-        

Vùng hàm mặt có nhiều mạch máu và bạch huyết nên có điều kiện nuôi dưỡng và bảo vệ tốt; vì vậy, vết thương thường chảy máu nhiều nhưng lại chóng hồi phục.

-        

Vùng hàm mặt có mạch máu nuôi dưỡng phong phú, có hốc miệng, mũi, mắt và tai, do đó ít có biến chứng hoại sinh hơi và vì thế vết thương vùng hàm mặt có thể khâu đóng kín thì đầu (trước 6 giờ) ngay cả vết thương đến muộn (sau 6 giờ) nếu làm sạch vết thương thật tốt cũng có thể khâu đóng kín được.

-        

Cơ bám da mặt một đầu bám vào xương, một đầu bám vào da nên vết thương có xu hướng bị toác rộng và mép vết thương bị quắp lại, co kéo làm thay đổi các mốc giải phẫu.

-        

Dây thần kinh mặt chi phối vận động các cơ bám da mặt dễ bị tổn thương trong chấn thương hoặc trong phẫu thuật điều trị.

-        

Vết thương ở mặt khi liền sẹo có thể bị co kéo làm thay đổi các mốc giải phẫu, ảnh hưởng rất nhiều đến chức năng ăn, nuốt, thở, nói và thẩm mỹ.

-        

Tuyến nước bọt và ống dẫn nếu bị đứt sẽ tạo dò nước bọt kéo dài, gây khó chịu cho bệnh nhân.

1.2. Đặc điểm xương hàm trên

Khối xương tầng giữa của mặt được cấu tạo nên bởi 13 xương đối xứng

từng đôi một (6 đôi xương chẵn và một xương lẻ là xương lá mía hay vách ngăn

mũi). Trong đó xương hàm trên và xương gò má là xương to và cơ bản.

-        

Xương hàm trên là một xương cố định, mỏng do có xoang hàm, được che chở bởi : Phía trên là sàn hộp sọ.- Phía dưới là xương hàm dưới.- Hai bên là xương gò má, cung tiếp.

-        

Khi có chấn thương, thường làm tổn thương các xương che chở, chỉ có lực mạnh và va chạm trực tiếp mới làm gãy xương hàm trên.

-        

Xương hàm trên được cấu tạo để chịu đựng các lực va chạm từ dưới lên, chỉ có các lực ngang mới dễ làm gãy hàm.

-        

Xương hàm trên là một xương xốp có nhiều mạch máu nuôi dưỡng, vì thế khi

gãy xương hàm trên chảy máu nhiều nhưng cũng rất chóng lành thương.

- Xương hàm trên dính liền với nền sọ nên trong những trường hợp gãy tách rời

sọ mặt cao hoặc gãy xương vách ngăn mũi ở cao gây tổn thương lá sàng, rách

màng não cứng làm cho nước dịch não tủy có thể chảy qua các lỗ sàng xuống

mũi và từ đó có nguy cơ có thể nhiễm khuẩn não hoặc màng não ngược dòng.

1.3. Đặc điểm giải phẫu xương hàm dưới:

-        

Xương hàm dưới là một xương di động, dẹt, đặc, trong xốp, giữa có ống răng dưới giống như một cái máng, phía ngoài có lỗ cằm.

-        

Xương hàm dưới khi cử động chỉ dựa vào lồi cầu và cổ lồi cầu nhỏ bé.

-        

Do vậy xương hàm dưới có một số vị trí yếu đó là: Vùng răng cửa, lỗ cằm, góc hàm và cổ lồi cầu.

-        

Xương hàm dưới có nhiều cơ bám (các cơ nâng và hạ hàm) nên khi gẫy dễ bị di lệch do các cơ co kéo.

-        

Khi dây thần kinh răng dưới bị đứt gây tê môi cằm.

2. Nguyên nhân chấn thương hàm mặt:

Có một số nguyên nhân chính sau:

- Tai nạn giao thông: Chiếm 60 – 70%.

- Tai nạn lao động.

- Tai nạn luyện tập và thi đấu thể thao.

- Tai nạn sinh hoạt.

3. Phân loại chấn thương hàm mặt:

 

- Tất cả chấn thương hàm mặt có thể chia thành hai nhóm chính: chấn thương phần mềm và chấn thương gãy xương hàm mặt.

Tin cùng chuyên mục