DỊ TẬT BẨM SINH VÙNG HÀM MẶT

 Dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt đại đa số là khe hở bẩm sinh vì vùng đầu mặt cổ trong quá trình phát triển bào thai là sự gặp nhau và gắn liền của các nụ mầm. Nếu vì nguyên nhân bệnh lý nào đó các nụ mầm này không gắn được vào nhau sẽ để lại các khe hở bẩm sinh.

Khe hở bẩm sinh vùng hàm mặt mà chủ yếu là khe hở môi - vòm miệng có tỷ lệ 1/1000 trẻ sơ sinh. Trong khoa hàm mặt, số bệnh nhân tới điều trị khe hở môi - vòm miệng chiếm khoảng 20%.

Những dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt, chủ yếu là những khe hở ở vùng mặt, gây biến dạng mặt làm tổn thương đến tâm lý, thẩm mỹ và chức năng, chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại dị tật chung của cơ thể (khoảng 10%).

Ở Đức, từ 1925-1958, thống kê toàn thể trẻ sơ sinh thì dị tật chung (ở chân, tay, thần kinh, tim, mạch máu lớn và hàm mặt) chiếm 0,6 – 2%, trong đó 1/10 là khe hở bẩm sinh hàm mặt.

Ở Tiệp Khắc, cứ 200 trẻ sơ sinh, có 1 trẻ dị tật bẩm sinh chung (theo Burian).

Nói chung, trên thế giới cứ 1000 cháu mới sinh, thì có 1 cháu có dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt (tỷ lệ 10/00). Tỷ lệ này có khác nhau ở mỗi nước và ở các thời điểm khác nhau:

Ở Đức: Trước thế chiến thứ II:  1/1000 Sau thế chiến thứ II :  1/450

Tiệp khắc : Đầu thế kỷ 20 :          1/1000

Năm 1962 : 1/750 (theo Burian)

Pháp :  1/ 942 (1927 theo Veau và Peron)

– Ở Mỹ  :  1/ 700

Nhật : 1/ 378 (Theo tài liệu thông báo của ngành Răng Hàm Mặt Mỹ 9/1969).

Ở Việt Nam, theo Nguyễn Huy Cận, Viện bảo vệ bà mẹ trẻ em, tỷ lệ cũng xấp xỉ 1/1000 (1996), Phạm Gia Đức: tỷ lệ 1/640 (1970). Theo Mai Đình Hưng, Viện RHM Hà Nội, tỷ lệ 1/1211 (1980, theo Nguyễn Thị Bá Thanh, Viện phụ sản thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ 1/480 (1984).

 

Tóm lại, khe hở dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt là một bệnh khá phổ biến. Nếu dân số nước ta hiện nay là 80 triệu dân, tỷ lệ sinh đẻ là 3%, tỷ lệ dị tật bẩm sinh hàm mặt là 1/1000, thì hàng năm có khoảng 2400 cháu nhỏ ra đời có dị tật bẩm sinh hàm mặt.

2. Cơ chế và nguyên nhân bệnh sinh:

2.1.  Nhắc lại khái niệm bào thai học:

Trứng thụ tinh sẽ phân chia ngay và tiến triển qua các giai đoạn: Phôi dâu, phôi kết, bán phôi hai lá (khi xuất hiện túi ối và noãn hoàng), sau đó là giai đoạn bán phôi 3 lá (khi lá trung bì phôi xuất hiện giữa 2 lá nội và ngoại bì). Trong quá trình phát triển, bán phôi ngày càng nở rộng, lồi vào trong khoang màng ối và rãnh màng ối ngày càng bị hạ thấp xuống phía bụng. Kết quả là khúc đầu và khúc sau của bán phôi ngày càng được phân biệt rõ, đó là giai đoạn khép mình phôi. Cùng với sự phát triển mạnh của não, tim, thành trước lồng ngực, cung mang. Mồm nguyên thủy cũng xuất hiện ở phần trên của cung mang I.

Cơ chế bệnh sinh

Để giải thích cơ chế bệnh sinh, người ta dùng thuyết nụ mầm của Rhatke(1832), Dursy (1869) và His (1888), vào năm 1930 Victor Veau bổ xung thêm bằng thuyết tường chìm (Mur plongeant).

Theo thuyết nụ mầm, vào tuần lễ thứ 3 của bào thai, lúc thai khỏang 10mm, ở cung mang I vì túi não I và tim phát triển nhanh, giữa 2 khối não và tim hiện ra 1 chỗ lõm gọi là mồm nguyên thủy, ở bờ chung quanh của mồm nguyên thủy chồi ra 5 nụ, được gọi chung là nụ mặt. Nụ trán xuất hiện bờ trên của mồm nguyên thủy, hai nụ hàm trên ở hai bên và hai nụ hàm dưới ở phần dưới của mồm nguyên thủy. Từ nụ trán xuất hiện những nụ mũi phải (MP) và mũi trái (MT), được ngăn cách bởi khe giữa, mỗi nụ mũi phải và trái lại tách làm đôi, thành nụ mũi trong và nụ mũi ngoài, hai nụ này được ngăn cách bởiì rãnh khứu. Giữa nụ hàm trên và nụ mũi có xuất hiện khe ổ mắt mũi (khe OMM).

Những nụ hàm trên cùng với nụ mũi trong phát triển và gắn dính với nhau, làm khép rãnh khứu, tạo thành lỗ mũi và môi bên hàm trên.

Những nụ hàm trên và nụ mũi ngoài (MN) cùng phát triển và gắn dính với nhau lấp khe ổ mắt mũi, để lại rãnh gọi là rãnh mũi lệ, về sau cũng biến mất.

Những nụ mũi trong phát triển và gắn dính với nhau ở đường giữa, tạo thành môi giữa hàm trên (nhân trung)

Những nụ hàm trên và nụ hàm dưới cũng gắn dính với nhau tạo thành sự liên tục của má

Như vậy lỗ miệng là một khe có 2 môi: môi trên được cấu tạo bởi những nụ mũi trong và nụ hàm trên. Môi dưới được cấu tạo bởi hai nụ hàm dưới. Người ta gọi giai đoạn này là giai đọan hình thành vòm miệng sơ phát gồm phần môi và xương ổ răng, từ lỗ khẩu cái trước (lỗ răng cửa) trở về trước.

Vào tuần thứ 8 khi bào thai khoảng 30mm, bắt đầu có sự hình thành vòm miệng thứ phát, gồm phần sau lỗ khẩu cái trước để ngăn cách hố miệng và hốc mũi. Vòm miệng thứ phát được hình thành xuất phát từ lỗ khẩu cái trước trở về phía sau (lưỡi gà).

Cũng từ thành của mồm nguyên thủy chồi ra 5 nụ:

-                    

Một nụ đứng dọc từ giữa nụ trán rũ xuống (tức vách ngăn mũi sau này).

-                    

Hai nụ ngang trước gọi là nụ khẩu cái, từ hai nụ hàm trên hai bên tiến ra đường giữa tự gắn liền với nhau, tạo thành vòm miệng cứng.

-                    

Hai nụ ngang sau còn gọi là nụ chân bướm khẩu cái, cũng xuất phát từ nụ hàm trên 2 bên, tiến ra đường giữa gắn dính với nhau, tạo thành vòm miệng mềm và lưỡi gà.

Bờ sau của 2 nụ ngang trước gắn dính với bờ trước của 2 nụ ngang sau, tạo thành sự liên tục của vòm miệng.

Nếu vì một nguyên nhân nào đó (nội tại hoặc ngoại lai) tác động vào, làm ngưng trệ quá trình phát triển và gắn dính của các nụ mặt, sẽ dẫn đến các khe hở dị tật bẩm sinh hàm mặt tương ứng. Từ thuyết trên ta có thể có những loại khe hở sau:

-                     

Khe hở môi bên hàm trên: nụ hàm trên không dính nụ mũi trong

-                     

Khe hở môi giữa hàm trên: 2 nụ không dính nhau

-                     

Khe hở chéo mặt: nụ mũi ngoài không dính nụ hàm trên

-                     

Khe hở ngang mặt: nụ hàm trên không dính nụ hàm dưới

-                     

Khe hở môi dưới: 2 nụ hàm dưới không dính nhau

-                     

Khe hở vòm miệng cứng: 2 nụ ngang trước không dính

-                     

Khe hở vòm miệng mềm: 2 nụ ngang sau không dính Lưu ý:

-                     

Có thể khe hở môi mà không có khe hở hàm, nhưng ngược lại thì không thế

-                     

Có thể có khe hở vòm miệng mềm mà không có khe hở vòm miệng cứng, nhưng ngược lại thì không thế.

Vách ngăn mũi

Sự hạ xuống của lưỡi

Đóng vòm miệng cứng

2.3.  Nguyên nhân

Có hai loại nguyên nhân: ngoại lai và nội tại

Theo Dimitrieva (1964) liệt kê nguyên nhân sinh bệnh như sau :

Nguyên nhân ngoại lai

-                    

Yếu tố lý học: cơ học, nhiệt, phóng xạ

-                    

Yếu tố hóa học: thiếu oxy, suy dinh dưỡng, rối loạn nội tiết, nhiễm chất độc (Teratogen)

-                    

Yếu tố sinh vật: virus, vi khuẩn và độc tố, ký sinh trùng.

-                    

Yếu tố thần kinh

Nguyên nhân nội tại

-                    

Yếu tố di truyền

-                    

Sự không hòan chỉnh về mặt sinh vật của tế bào sinh dục

-                    

Ảnh hưởng của tuổi và nòi giống

Theo Rosenthal, nguyên nhân ngoại lai chiếm 70% trường hợp (kể cả những yếu tố không biết), còn 30% là những yếu tố nội tại.

Ở Việt nam, theo khoa Răng Hàm Mặt bệnh viện Việt Đức năm 1971 vấn đề sức khỏe của người mẹ chiếm tỷ lệ cao 71,4%. Trong đó bị cúm chiếm 67,1%

Gabka phân tích trên 2500 bệnh nhân khe hở môi và khe hở vòm miệng thấy:

– Không thấy nguyên nhân                         :                                    23,2%

– Di truyền                                                  :                                    15,1%

– Hoảng sợ chung                                       :                                     10,9%

– Mẹ trên 40 tuổi                                         :                                    6,7%

– Hay chảy máu khi mang thai                   :                                     5,1%

– Nhiễm độc rau thai                                  :                                     6,7%

– Mắc bệnh do virus thời kỳ mang thai      :                                     3,4%

3. lâm sàng

3.1. Phân tích và phân loại

-                    

Phái tính: nữ ít hơn nam, theo Rosenthal, tỷ lệ 2/3 (nữ/nam). Ở Việt nam (Bệnh viện Việt Đức) trong 1477 trường hợp nam chiếm 56,5%, nữ chiếm 43,5%.

-                    

Phía khe hở: bên trái nhiều hơn bên phải (gấp 2,5 lần)

-                    

Độ lớn của khe hở: hiện nay thường dùng danh từ toàn bộ và không toàn bộ, để chỉ độ lớn của khe hở môi và vòm miệng. Năm 1964, Bethman và năm 1966, Burian có sử dụng lối chia độ: độ 1, độ 2, độ Trong đó, độ 1 và độ 2: không toàn bộ; độ 3: toàn bộ

3.2. Các loại khe hở bẩm sinh vùng hàm mặt

Theo Kernahan và Stark (Mỹ 1958) có bốn loại lớn trong các khe hở bẩm sinh hàm mặt. Điểm cơ bản của phân loại này là phù hợp với bào thai học, lấy lỗ khẩu cái trước làm ranh giới, phần trước là vòm miệng tiên phát (nguyên phát) gồm môi và mấu hàm, phần sau là vòm miệng thứ phát gồm vòm miệng cứng và buồm hầu (vòm miệng mềm)

3.21. Khe hở sơ phát môi và hàm (Cheilo-Gnatho Schisis):

·                    

Khe hở môi: khe hở ở phần môi đỏ và da, không tổn thương phần xương mấu hàm

+ Mức độ nhẹ: môi đỏ có khuyết hướng lên trên, độ 1/3

+ Mức độ trung bình: Khe hở liên quan đến môi đỏ và nửa phần da của môi trên, độ 2/3

+ Mức độ nặng: môi trên toàn bộ bị chia từ môi đỏ đến hốc mũi, thường gọi là khe hở môi toàn bộ, độ 3/3. Trường hợp này có biến dạng cánh mũi.

·                    

Khe hở hàm: Phần xương trước lỗ răng cửa (lỗ khẩu cái trước)

+ Mức độ nhẹ: vùng răng cửa bên hàm trên có vết hằng nhẹ

+ Mức độ trung bình: có khe hở vùng xương ổ răng

+ Mức độ nặng: khe hở xương đến lỗ răng cửa

·                    

Khe hở thứ phát vòm miệng cứng và buồm hầu (Urano-Staphylo Schisis)

·                    

Khe hở buồm hầu (vòm miệng mềm)

+ Khe hở lưỡi gà

+ Khe hở lưỡi gà và 1/3 giữa vòm miệng mềm

+ Khe hở vòm miệng mềm toàn bộ

·                    

Khe hở vòm miệng cứng:

+ Khe hở đến 1/3 sau

+ Khe hở đến 1/3 giữa

+ Khe hở vòm miệng đến lỗ răng cửa

·                    

Khe hở phối hợp môi và vòm miệng

3.2.4 Khe hở đặc biệt khác ít thấy trên mặt: khe hở môi trên giữa, khe hở môi dưới, khe hở ngang mặt, khe hở chéo mặt.

3.3. Chẩn đoán

Để chẩn đóan đầy đủ và đúng cần phân tích và đánh giá những yếu tố sau:

·                    

Phía bên của khe hở: Một bên (phải hoặc trái), cả hai bên. Có khi người ta còn gọi là đơn hoặc kép

·                    

Mức độ nhiều hay ít của khe hở: Không toàn bộ, toàn bộ, hoặc độ 1, độ 2, độ 3

·                    

Sơ bộ nêu được một nguyên nhân có khả năng nhất.

Thí dụ, Khe hở môi tòan bộ nghi do virus cúm; khe hở môi độ một hai bên nghi do yếu tố di truyền…

4. Điều trị

4.1. Nguyên tắc cơ bản của điều trị khe hở môi và vòm miệng

Trong việc điều trị các bệnh nhân khe hở bẩm sinh hàm mặt, phải phối hợp nhiều chuyên khoa. Do đó, ngày nay có danh từ “Phức hợp điều trị bệnh nhân”. Trong đó chú ý cách thức điều trị, thời gian điều trị và sử dụng những kiến thức khoa học hiện đại nhất.

Việc điều trị ngày nay tuân theo thời gian biểu như sau:

 Trong 4 tuần đầu: chăm sóc sơ sinh đặc biệt chú ý đến sự thông thương miệng mũi dễ mắc bệnh viêm đường hô hấp.

Sau một tháng: làm các hàm bịt và nắn để tạm thời bịt sự thông thương và nắn chỉnh các đoạn hàm quá di lệch (nhất là với khe hở môi vòm miệng hai bên).

Khi trẻ từ 4 - 6 tháng: được trên 5 kg thể trọng và huyết sắc tố trên 60% sẽ được mổ tạo hình môi lần đầu.

Khi trẻ 12 - 24 tháng: có thể mổ tạo hình  vòm miệng mềm theo Schueckendicir để kịp thời tập nói đúng. Sau đó theo hàm nắn và luyện phát âm.

Từ tuổi: có thể mổ tạo hình vòm miệng cứng.

Sau 15 tuổi: sửa lại môi, mũi và làm hàm giả.

Thời gian điều trị thích hợp

Việc “điều trị phức hợp” này kéo dài từ khi mới sinh, đến tuổi trưởng thành 20 – 25 tuổi, việc điều trị phẫu thuật có thể can thiệp vào lúc vài tháng tuổi, đến 1- 2 tuổi đối với khe hở môi và 2 – 5,6 tuổi đối với khe hở vòm miệng. Tuy nhiên, thời gian này còn tùy thuộc vào từng trường hợp lâm sàng và thể địa của bệnh nhân

Chăm sóc trẻ trước phẫu thuật

Khe hở môi vòm là một bệnh phổ biến ở Việt Nam cũng như các nước Châu Á mà dân gian hay gọi là sứt môi- hở hàm ếch. Căn bệnh này có tần suất mắc khá cao: khoảng 500-600 trẻ đẻ ra có một trẻ mắc. Việc điều trị hiện nay có rất nhiều tiến bộ. Nếu bé sinh ra được tư vấn, điều trị đúng đắn, đúng thời điểm thì sẽ không để lại bất cứ một di chứng gì.

 

Chăm sóc và điều trị khe hở môi-vòm miệng từ giai đoạn sơ sinh đến tuổi trưởng thành

Quá trình chăm sóc và điều trị cần bắt đầu từ khi trẻ ra đời và cần sự phối hợp của nhiều chuyên khoa bao gồm: nhi khoa, dinh dưỡng, tai mũi họng, răng hàm mặt, chuyên gia ngôn ngữ , chuyên gia tâm lý và quan trọng nhất là sự kiên nhẫn của cha mẹ và người thân.

Thời kỳ sơ sinh

Vấn đề cho bú: trước khi phẫu thuật vấn đề khó khăn nhất của bà mẹ là cho con bú. Hầu hết các trẻ khe hở môi vòm miệng đều không bú mẹ được và cũng không bú được bằng bình sữa thông thường. Do đó trẻ cần bình sữa chuyên dụng. Sữa ăn có thể là sữa mẹ vắt ra hoặc sữa công thức. Các mẹ cần lưu ý là trẻ sẽ mất nhiều thời gian hơn và mất sức hơn để đạt được cùng một lượng sữa so với trẻ bình thường. Số lần mẹ cho bé bú cần nhiều hơn, thời gian cho một lần không quá dài( nên dưới 15 phút) để tránh làm bé kiệt sức.

 

Chỉnh hình trước phẫu thuật:

Bé cần được bác sĩ răng hàm mặt điều trị chỉnh hình trước phẫu thuật trong các trường hợp sau:

Khe hở môi, vòm miệng toàn bộ rộng

Mấu tiền hàm nhô ra trước( với khe hở môi vòm 2 bên)

Cánh mũi, trụ mũi xẹp, biến dạng nhiều

Bé bú được ít và hay sặc trớ

Lưỡi của trẻ luôn đưa vào trong khe hở

Bác sĩ sẽ làm cho bé một khí cụ chuyên biệt vừa khít với miệng và được cố định nhờ sự ôm khít với vòm miệng cứng, ngách tiền đình và các băng dính dán 2 bên má. Khí cụ này có những vai trò sau:

Giúp bé bú mút dễ dàng do tạo áp lực âm trong khoang miệng . Khí cụ ngăn sự thông thương giữa khoang mũi và khoang miệng nên giảm sự sặc sữa.

Khí cụ giúp thu hẹp độ rộng của khe hở môi, khe hở cung hàm, khe hở vòm từ 20- 35%

Chỉnh hình nâng cao , làm tròn cánh mũi, dựng thẳng trụ mũi .

Đẩy khối tiền hàm vào trong ( với khe hở môi vòm 2 bên)

Ngăn lưỡi không chui vào khe hở, không làm khe hở rộng thêm

Kéo dài phần môi bị ngắn , tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phẫu thuật

Việc điều trị chỉnh hình có thể bắt đầu từ 2 ngày tuổi nếu trẻ khỏe, giúp cho bé được nuôi dưỡng tốt và chuẩn bị tiền đề tốt nhất cho phẫu thuật

Sut moi 4(01)

Trước chỉnh hình lúc 1 tháng tuổi

Sut moi 5(01)

Đeo khí cụ chỉnh hình trước phẫu thuật

Sut moi 7(01)

5 ngày sau phẫu thuật tạo hình môi

Điều trị phẫu thuật

Chủ yếu là các phương pháp mổ tạo hình môi và vòm miệng. Theo thời gian, phương pháp mổ khe hở môi và vòm miệng ngày càng phát triển và hiện nay các phương pháp mổ đã được cải tiến hoàn chỉnh như phương pháp Millard, Tennison, Barsky. Với các phương pháp này có thể đem lại cho bệnh nhân một vẻ thẩm mỹ khá hoàn hảo, tránh được phần nào sự mặc cảm về dị tật của người bệnh đối với xã hội

4.2.  Giới thiệu các phương pháp phẫu thuật tạo hình môi

-                    

Nguyên tắc: Lấp kín được khe hở

-                    

Có hình thái bình thường về nhân trung, ranh giới da và làn môi đỏ; cung Cupidon, hình dáng cánh mũi.

Các phương pháp mổ:

-                    

Tạo hình bằng cách khâu giáp đơn thuần các bờ khe hở như phương phápVeau, Rosenthal, Husson – ..

-                    

Tạo hình bằng cách khâu giáp phức hợp các bờ khe hở (tạo hình chữ Z) theo phương pháp Tennison, ..

Phương pháp tạo hình điều trị khe hở môi một bên sử dụng vạt xoay - đẩy của R.Millrd (1956)

Đường rạch theo nguyên tắc tạo hình chữ Z để tạo thành hai vạt.

- Vạt xoay (a) một tam giác đỉnh vạt quay xuống dưới.

- Vạt đẩy (b) nằm một bên môi bệnh là một tam giác đỉnh quay lên trên.

- Phần môi đỏ và ngách tiền đình được tạo hình bằng phương pháp chữ Z.

- Phần cơ được bộc lộ riêng và khâu kỹ nối hai bên với nhau theo hướng cơ vòng môi bình thường.

 

5. Dự Phòng:

Khe hở dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt là một dị tật khá phổ biến, mà nguyên nhân rất khó xác định cụ thể, đây là loại dị tật bẩm sinh làm ảnh hưởng nhiều đến thẩm mỹ, tâm lý và chức năng phát âm, ăn uống, làm cho người bị dị tật luôn luôn có mặc cảm với mọi người trong xã hội. Việc điều trị cũng rất phức tạp, tốn kém và không được hoàn toàn như ý. Vì vậy, việc dự phòng để làm giảm tỷ lệ dị tật là rất đáng quan tâm, đặc biệt là việc giáo dục và khuyến cáo cho phụ nữ ở độ tuổi sinh con, cần lưu ý những yếu tố có nguy cơ gây dị tật như vấn đề: tuổi sinh con, nghề nghiệp, môi trường sống, tình trạng dinh dưỡng lúc mang thai, tình trạng tâm lý…

Việc điều trị, chăm sóc sớm và đúng cách các dị tật bẩm sinh hàm mặt, cũng góp phần trong việc dự phòng những rối loạn nặng thêm của dị tật. Cụ thể:

Dự phòng cấp 0

Nhà nước cần có những chương trình làm sạch lại môi trường, đặc biệt là những vùng dân cư đã nhiễm thuốc khai quang trong chiến tranh

Quan tâm đến chế độ bảo hộ lao động, tránh tai nạn lao động, tránh những chất độc trong nhà máy công xưởng sản xuất, chú ý về các chất phóng xạ và nhiệt độ

Vận động nhân dân thực hiện tốt luật hôn nhân và tuổi sinh con hợp lý

Tổ chức và vận động các hội đoàn trong xã hội, cùng với ngành y tế giúp đỡ về vật chất, tinh thần và điều trị sớm, đúng cách cho người bị dị tật bẩm sinh hàm mặt

Dự phòng cấp 1

Tuyên truyền và giáo dục cho phụ nữ tuổi sinh con có ý thức phòng, tránh những yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến dị tật bẩm sinh hàm mặt cho thai nhi: vấn đề tuổi sinh con, dinh dưỡng trong lúc mang thai, tình trạng tâm lý, sang chấn cơ học, an toàn trong lao động…

Dự phòng cấp 2

Hướng dẫn cho người mẹ có con bị dị tật bẩm sinh hàm mặt biết cách cho bú, ăn tránh sặc, quan tâm đến dinh dưỡng cho cháu nhỏ.

Điều trị kịp thời và đúng cách các trường hợp dị tật bẩm sinh hàm mặt, để phục hồi được phần nào về thẩm mỹ và chức năng cho người bị dị tật, tránh được phần nào mặc cảm tâm lý cho người bệnh và thân nhân.

Dự phòng cấp 3

Mổ lại các trường hợp có sẹo xấu, thiếu chiều rộng, chiều cao của môi để đem lại thẩm mỹ hoàn thiện hơn cho người bệnh

Dạy phát âm đúng sau các trường hợp phẫu thuật môi và vòm miệng

 

CÁC DỊ TẬT BẨM SINH THƯỜNG THẤY VÙNG RĂNG MIỆNG

 

Dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt rất nhiều, gần như các dị tật do bẩm sinh ở các vùng khác trên cơ thể đều có hỉện diện trên miệng và hàm mặt. Những biến dạng về xương nói chung đều thể hiện ở vùng xương hàm.

1. Răng to bẫm sinh (Macrodontia) và răng nhỏ bẩm sinh ( Micro dontia)

Là những bất thường về kích thước của cả bộ răng chứ không phải của riêng một răng, đôi khi có người chỉ to ở răng cửa hoặc chỉ răng nanh to thì không xếp vào loại dị dạng bẩm sinh.Trong trường hợp răng to mà hàm răng cũng to theo và xương hàm to để đủ cho các răng mọc bình thường thì sẽ cân xứng. nhưng nếu xương hàm nhỏ, các răng to sẽ không đủ chỗ mọc gây lệch lạc hàm răng .

Trường hợp răng nhỏ bất thường cũng vậy, ta thường gọi là răng chuột, thường gặp hơn là răng to. Nếu răng nhỏ mà xương hàm to thì các răng mọc sẽ thưa, tuy nhiên nếu xương hàm cũng nhỏ theo thì răng vẫn mọc cân xứng.
Cả hai trường hợp răng to và nhỏ quá mức đều gây mất thẩm mỹ cho khuôn mặt.
2. Lưỡi to bẩm sinh (Macroglossia) :

·                    

Người có kích thước lưỡi quá to sẽ gặp trở ngại và khó khăn cho việc ăn, nhai, nuốt và phát âm. Trẻ có lưỡi to bẫm sinh sẽ chậm biết nói và nói ngọng trong thời gian đầu, có khi đến lớn mà vẫn còn nói ngọng nghệu. Người có lưỡi to thường nuốt khó, bình thường khi nuốt nước bọt lưỡi có phản xạ co vào, nhưng đối với bệnh nhân có lưỡi to, lưỡi co vào khó hơn đẩy ra, vì vậy mà bệnh nhân sẽ có thói quen đẩy lưỡi.Hậu quả là răng sẽ bị hô, răng chìa ra và khớp cắn hở ở vùng răng cửa. Lưỡi to rất dễ nhận thấy vì đầu lưỡi không nhọn như bình thường, hai bên hông lưỡi có dấu của răng vì lưỡi to lúc nào cũng chèn ép hàm răng khiến cho lưỡi bị răng ép vào lâu ngày sẽ có ngấn in hình răng ở hông lưỡi

+Lưỡi dính (Ankyloglossia) :

Thường hay đi với dị tật lưỡi chẽ (Tongue bifurcation) làm cho đầu lưỡi không nhọn mà bị chẻ làm đôi. Thắng lưỡi nằm ở sán miệng, nối sàn miệng với sàn lưỡi và thân lưỡi. Trong trường hợp bệnh nhân có thắng lưỡi to , bám dính vào phía chóp lưỡi và đầu lưỡi, lưỡi bị co kéo cử động của lưỡi bị hạn chế, không còn linh hoạt, đưa ra trước và hai bên rất khó khăn. Bệnh nhân có lưỡi bị dính sẽ khó khăn trong phát âm , giọng nói bị ngọng nghịu và khi nuốt lưỡi co lại khó khăn. Lưỡi có thắng lưỡi dính phải làm phẫu thuật, cắt bỏ thắng lưỡi để giải phóng cho lưỡi, điều quan trọng là phụ huynh phải phát hiện sớm

con của mình có dị tật trên và BS RHM khi khám bệnh phải phát hiện được dị tật.

3.Lưỡi có rãnh nứt sâu (Fissure tongue):

·                    

Các rãnh nứt trên lưỡi là bẫm sinh và bình thường. Tuy nhiên có những rãnh nứt quá sâu và nhiều bệnh nhân có lúc phát hiện được thì hay lo lắng, trường hợp nầy vẫn là bình thường, nhưng bệnh nhân cần chú ý giữ vệ sinh răng miệng tốt, trong khi chải răng cũng nên chú ý chải lưỡi luôn để tránh bị nấm ở lưỡi.

4.Lưỡi có lông (Hairy tongue):

·                    

Do gai lưỡi dài bất thường, gai lưỡi là nơi có thần kinh vị giác, nhận ra các vị ngọt đắn, chua, mặn, trong quá trình ăn nhai, nhiều chất màu trong thức ăn bám vào và nhuộm những gai đó thành màu nâu hay đen giống như đám lông trên lưỡi. Trường lợp nầy cũng là bình thường, tuy nhiên bệnh nhân phải chịu khó chải răng và chải lưỡi kỷ hơn để phòng nấm candida phát triển. Bệnh nhân nên bỏ hút thuốc vì khói thuốc lá sẽ bám vào đám gai lưỡi có màu đen làm khó tẫy rửa hơn.

5.Lưỡi bản đồ (geographic tongue):

·                    

Thường hay gặp trên một số bệnh nhân, đây cũng là những dị tật bẫm sinh, lưỡi có vùng nhẵn không có gai lưỡi có vùng lại nổi lên nhiều gai lưỡi màu trắng, loang lỗ như hình bản đồ. Hình bản đồ trên mặt lưỡi luôn thay đổi hình dạng và vị trí. Bệnh nhân không thấy trở ngại gì với lưỡi dị dạng của mình, nhưng có lúc ăn đồ cay nóng, có thể làm đau rát, nóng đỏ ở vùng lưỡi không có gai

6. Lồi xương (Torus, exostose):Lồi xương là những khối u xương lành tính có ở cả 2 hàm răng. Lồi xương là bình thường và có nhiều người bị ,tỷ lệ hiện diện từ 30%-35% trên tổng số bệnh nhân. Lồi xương vùng hàm ếch (Torus palatinus)có tỷ lệ cao hơn lồi xương hàm dưới (Torus mandibularis)

Lồi xương lớn lên cùng với xương hàm, nhưng kích thước lồi xương cũng có giới hạn và ngưng lại chứ không phải càng ngày càng to. Lồi xương có âm thầm và không ảnh hưởng gì đến ăn nhai, vì vậy mà bệnh nhân không biết. Bệnh nhân có khi bất chợt nhìn vào gương và phát hiện mình có một khối u và bệnh nhân sẽ hốt hoảng, nếu được BS RHM tư vấn tốt bệnh nhân sẽ yên tâm vì các lồi xương vẫn là bình thường.
Các lồi xương thường ít gây trở ngại cho bệnh nhân khi ăn nhai, Nếu có thường là chấn thương do ăn những thức ăn cứng va chạm vào niêm mạc chỗ lồi gây nên vết loét. Hoặc do vùng có lồi xương, niêm mạc (Phần mềm) dễ bị kích thích gây vết apth (Apthous ulcer, Mụn loét nóng), vết apth thường làm đau rát , và hay tái phát nhiều lần. Các lồi xương bình thường không cần phẫu thuật nhưng trong trường hợp lồi xương quá to gây trở ngại cho hàm răng giả toàn bộ tháo lắp, nền hàm tựa vào lồi xương có thể gây đau, loét trên niêm mạc vùng đó và làm hàm trên bị rớt vì không có độ hít vào hàm ếch. Nếu hàm giả bị rớt vì các lồi xương (tori) quá to phải được chỉ định phẩu thuật đục bỏ lồi xương.
7. Nướu răng nhiễm sắc tố đen: (Pigmented gum).

·                    

Nướu , lợi thường có màu hồng nhạt đó là bình thường, nhưng ở một số bênh nhân da đen hoặc da vàng sạm ,do có nhiều sắc tố melanin, thường sắc tố nầy hiện trên da thành tàn nhan, nhưng đôi khi lại tụ ở vùng nướu răng, nhất là ở các răng cửa trên, khi bệnh nhân cười sẽ lộ ra vùng nướu có sắc tố màu đen rãi rác thành từng đốm làm mất thẫm mỹ khuôn mặt, nhất là nếu hàm răng ở những bệnh nhân chưa cười mà nướu đã bị lộ . Do bẫm sinh và tự nhiên nên rất khó tẩy cho nướu trở lại bình thường. Hiện nay các thẫm mỹ viện thường có quảng cáo tẩy trắng vết đen trên nướu bằng tia laser, nhưng kết quả vẫn chưa thỏa mãn và đạt yêu cầu.

8. Răng dị dạng Hutchison hay răng nanh nhọn dị dạng và răng hàm hình bánh trung thu:

·                    

Đây là dị dạng trên răng vĩnh viễn có nguồn gốc bẫm sinh do vi khuẩn bệnh giang mai (treponema palidium, syphilis). Ở những bà mẹ mắc bệnh giang mai, vi khuẩn gây bệnh giang mai xâm nhập vào các tuần lễ đầu của bào thai.

Khi bé mới sinh ra có thể trong máu không còn vi khuẫn bệnh giang mai nữa, nhưng sang thương gây nên bởi vi khuẫn nầy làm ảnh hưởng đến mầm răng khiến cho mặt nhai răng hàm 6 tuổi có múi rãnh bất thường gọi là strawberry molar, răng hàm có hình dáng vuông vuông như bánh trung thu. Đồng thời với răng hàm, răng nanh cũng bị dị dạng, cong thắt lại ở giữa và đầu nhọn.

9. Răng khuyết men bẩm sinh hay bị thiểu sản men (Amelo imperfecta):

·                    

Đây là bệnh bẩm sinh của men răng, toàn bộ các men răng không có nên ngà răng bên trong sẽ lộ ra, hình dáng của từng răng bị biến dạng, mặt răng không bóng láng vì không có men che chở, ngà răng màu váng bị lộ ra lâu ngày nhiễm thêm màu nâu, mặt các răng bị dơ khó chải sạch và rất ê buốt khi ăn đồ nóng, lạnh hoặc chua. Răng không có men che chở cũng rất dễ bị sâu răng và dễ bị hủy hoại vì cấu trúc ngà cũng yếu hơn bình thường.

Chúng ta cũng biết men răng là phần cứng nhất trong cơ thể, men răng bảo vệ cho ngà bên trong. Răng bị khuyết men bẩm sinh không điều trị được, muốn làm đẹp và bảo vệ răng lâu dài thì nên làm mão sứ để bọc lại vừa đẹp lại chắc chắn, hàm răng sẽ không bị mòn. Trám đấp mặt thẩm mỹ có thể tạm thời che lớp ngà lại, nhưng màu sắc không đẹp, dễ bị đổi màu, mắt răng sau khi trám sẽ dầy lên khó đạt yêu cầu về thẩm mỹ
10. Ngà răng thiểu sản bẩm sinh (Dentino imperfecta):

·                    

Răng không có ngà nên sẽ trong suốt và có màu xám chứ không có màu vàng ngà như bình thường. Bệnh nhân có răng bị thiểu sản ngà cũng giống như thiểu sản men sẽ mặc cảm với hàm răng mất thẩm mỹ của mình và khi răng bị sâu, không có ngà bên trong nâng đở thì mô răng rất dễ bị phá hủy, hàm răng bệnh nhân dễ bị còi cọc, mất sức nhai. Để tái tạo thẩm mỹ và chức năng nhai cho răng, bệnh nhân nên được làm răng sứ để phủ lên cho thẩm mỹ và để bảo vệ duy trì được độ bền vững của răng trên hàm.

11. Răng dư bẩm sinh (Mesiodent):

·                    

Do bất thường từ mầm răng. Răng dư rất thường gặp nhất là ở vùng răng cửa giữa nên mới gọi là mesio, răng dư thường nhỏ và hơi dị dạng nằm chen lẫn giữa các răng. Răng dư thường gặp là răng số 1bis, răng số 4bis, rất hiếm có răng cối lớn (răng hàm) bị dư. Răng dư thường mọc lệch hoặc chen chúc nhau trên hàm, nếu muốn chỉnh răng phải nhổ bớt các răng dư.

12. Thiếu răng bẩm sinh :

·                    

Không giống như răng dư thường tập trung ở một số răng, răng bị thiếu thường gặp ở tất cả các răng, răng thiếu nhiều nhất là răng khôn hay răng cùng (Tỷ lệ 30-35%). Còn lại tất cả các răng đều có thể thiếu. Vì không có mầm răng vĩnh viễn nên có thể răng sữa không rụng đi mà sẽ tồn tại lâu hơn. Có nhiều trường hợp do thiếu mầm răng vĩnh viễn bên dưới nên răng sữa không bị lung lay vì chân răng sữa không bị tiêu nên vẫn đứng vững trên hàm. Đôi khi răng sữa ngay chổ răng vĩnh viễn mọc thiếu vẫn không rụng cho đến tuổi trưởng thành hoặc có khi bệnh nhân đến 35 tuổi mà vẫn còn răng sữa.

Răng mọc thiếu không ảnh hưởng lắm đối với hàm răng và sự ăn nhai. Nhưng có thể làm thưa răng nếu thiếu nhiều.

13. Không có răng bẩm sinh (Anodontia):

 

·                    

Bệnh nầy rất hiếm thấy, bệnh nhân hoàn toàn không có mầm răng ngay từ lúc mới sinh không có răng hoàn toàn .

Tin cùng chuyên mục