Điều chỉnh nền và vành cắn hàm trên

chỉnh nền và vành cắn hàm trên

Thẩm mỹ của khuôn mặt và việc ghi dấu các mô mềm của mặt có liên quan trực tiếp đến việc thiết lập kích thước dọc khớp cắn. Vì vậy cần điều chỉnh để có được “sự thẩm mỹ lý tưởng” của vành cắn hàm trên trước khi di xa hơn trong việc ghi tương quan hai hàm.

Có thể phân nền và vành cắn hàm trên thành hai thành phần, thành phần phía trước có tầm quan trọng thẩm mỹ và thành phần phía sau có tầm quan trọng chức năng.

1. Điều chỉnh thành phần phía trước

Bắt đầu việc điều chỉnh thành phần phía trước bằng cách kiểm tra mật ngoài của mẫu thử (nền tạm và vành cắn). Việc này thường bị bỏ sót và có thể có những hậu quả đáng kể trên thẩm mỹ và kích thước dọc khớp cắn. Thật vậy, bờ phía trước không được dầy quá mức nếu không nó làm biến dạng hành lang và nâng đỡ môi sai. Mặc khác, sự dầy quá mức của mặt ngoài bản nền khẩu cái dễ làm lưỡi và hàm dưới hạ thấp bất thường do bệnh nhân tìm cách phục hồi khoảng Donders ở vị trí nghỉ. Khi mặt ngoài mẫu thử không còn làm xáo trộn các cơ quan cận phục hình nữa thì bác sĩ có thể hoàn toàn chú ý vào việc điều chỉnh vành cắn.


Một phục hình muôn thẩm mỹ thì phải có răng được sắp hài hòa với nướu, môi và khuôn mặt. Vành cắn được chỉnh sao cho bệnh nhân có khuôn mặt nhìn nghiêng hài hòa đồng thời làm cho môi trên có một thể tích bình thường. Khi đã đạt được sự nâng đỡ lý tưởng cho môi trên, bác sĩ sẽ điều chỉnh chiều cao vành cắn.

Dạng ngoài của môi trên được dùng để đánh giá chiều dài của răng cửa giữa thấy được ở tư thế nghỉ và trong lúc cười. Dạng ngoài của môi trên cũng cho phép đánh giá mức của nướu cổ răng khi cười (đường cười).

Dạng ngoài của môi dưới cho phép đánh giá vị trí ngoài-trong của bờ răng cửa giữa trên cũng như là độ cong của mặt phẳng răng cửa.


 hàm răng thật, độ lộ trung bình của các răng cửa giữa trên khi môi ở tư thế nghỉ là 1,91 mm  nam giới và 3,40 mm  nữ giới (80% trường hợp). Nếu môi trên ngắn ta thấy răng nhiều hơn (3,65 mm tức là l0% trường hợp), Khi môi trên dài răng cửa ít lộ hơn (0,59 mm tức là 5% trường hợp). Những bệnh nhân trẻ dưới 29 tuổi, lộ răng cửa trên nhiều hơn (3,37 mm) trong khi những người từ 30 đến 50 tuổi không lộ quá 1,26mm. Những dữ liệu này có thể là những hướng dẫn có ích trong phục hình toàn hàm.


Những tiêu chuẩn thẩm mỹ rất chủ quan, không đủ để bác sĩ quyết định việc chọn lựa chiều cao và vị trí của vành cắn. Vì vậy người ta kết hợp những thử nghiệm phát âm với những tiêu chuẩn thẩm mỹ. Khi phát âm  âm "F" và ”V", tương quan bình thường của bờ niêm mạc của môi dưới. Nền và vành cắn hàm trên được chỉnh sao để có thể phát âm đúng âm môi răng " Fe-Ve". Khi phát âm những âm vị này, bờ tự do của môi dưới đến sát gần vành cắn.

Cũng kiểm tra xem sự định hướng của vành cắn phía trước có hài hòa với những đường nét của khuôn mặt. Vẻ bề ngoài thoải mái của cả mặt là kết quả chung của sự song song và đối xứng giữa những thông số cấu trúc của mặt. Ở khuôn mặt "hài hòa", đường nối hai đồng tử và đường ngang qua hai khóe môi cho một ấn tượng chung về sự hài hòa và nằm ngang (hình 43).

 

Hình 43. Đường nét nằm ngang, sự đối xứng và sự hài hòa của khuôn mặt

1:Trục đối xứng        2:Đường nối hai đồng tử

3:Đường thẳng góc với cánh mũi   4:Đường nối hai khóe mép


Về phần răng, hướng chung của mặt phẳng răng cửa phải giống như hướng của đường nối hai đồng tử (hình 43). Khái niệm hài hòa càng rõ hơn khi cho bệnh nhân cười, đường cong mặt phẳng răng cửa tương tự với đường cong môi dưới. Không cần thiết có sự song song của những yếu tố này, nhưng cần xác định xem chúng có mâu thuẫn với ấn tượng nằm ngang chung của mặt hay không (hình 43).


Đường răng cửa được cụ thể hóa nhờ mặt phẳng hay thước Fox (hình 43), đặt thước này chạm với mặt nhai của vành cắn trên. Đặt một thước nhỏ bằng kim loại ngang qua đường nối hai đồng tử. Kiểm tra sự song song giữa hai đường này. Khắc điểm giữa răng cửa trên vành cắn, tương ứng với trục đối xứng của khuôn mặt.về phía bên, hạ những đường thẳng góc từ cánh mũi (hình 43), tương ứng với vị trí đỉnh răng nanh. Kế đó yêu cầu bệnh nhân cười rộng. Lúc đó vị trí cao của bờ tự do môi trên cho ý tưởng về vị trí đường cổ răng tương lai. Vẽ tất cả những vị trí này lên vành cắn.


2. Điều chỉnh thành phần phía sau

Về phía sau, vành cắn được điều chỉnhsong song với mặt phẳng Camper. Mặt phẳng này, song song với mặt nhai của các răng, đi ngang qua gai mũi trước và gờ bình tai. Nếu gai mũi trước tương đối dễ xác định, thì gờ bình tai lại không. Nên lấy điểm chuẩn là bờ trên, bờ dưới hay điểm giữa gờ bình tai? Việc lựa chọn này ảnh hưởng quan trọng trên sự định hướng sau cùng của mặt phẳng nhai. Theo Karakis và cộng sự , dường như người ta thích lấy phần dưới của gờ bình tai làm điểm chuẩn. Do đó đặt một thước kim loại nối thẳnghàng từ gai mũi trước đến phần thấp của gờ bình tai để có mặt phẵng Camper. Sự định hướng của vành cắn được thể hiện nhờ thước Fox (hình 44).

 

Hình 44. Sự song song giữa mặt phẳng Fox và mặt phẳng Camper

Điều chỉnh vành cắn cho đến khi có sự song song giữa hai mặt phẳng này. Như vậy mặt phẳng được xác định không phải là mặt phẳng lên răng sau mà là mặt phẳng chuyển vị để vô giá khớp. Kể từ giai đoạn này có thể vô giá khớp mẫu hàm trên.

Tin cùng chuyên mục